Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tỉnh Bắc Kạn sau ba năm thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020

Cải cách hành chính là một nhiệm vụ thường xuyên liên tục, hiện nay ở nước ta đang thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ trong khuôn khổ cải cách nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là tiền đề quan trọng để thực hiện thành công quá trình đổi mới dưới sự lãnh đạo của đảng. Xác định được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính (CCHC), Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI (nhiệm kỳ 2015-2020) đã xác định CCHC là một trong 4 nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ ba (khóa XI) đã thông qua Nghị quyết số 07-NQ/TU về đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020.

Được sự vào cuộc của các cấp ủy đảng và sự nỗ lực của các cấp chính quyền, sau ba năm thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy Bắc Kạn, công tác CCHC của tỉnh đã đạt được một số kết quả nhất định trên các lĩnh vực từ cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công và hiện đại hóa hành chính. Theo đó, các mục tiêu của Nghị quyết đề ra đã hoàn thành 9/15 mục tiêu, số mục tiêu còn lại đang tiếp tục thực hiện; Chỉ số CCHC cấp tỉnh được cải thiện đáng kể qua các năm, năm 2016 xếp thứ 60/63 tỉnh thành, năm 2017 xếp thứ 49/63 tỉnh thành, xếp vào nhóm khá của cả nước.

Về cải cách thể chế, việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cơ bản đi vào nề nếp, đặc biệt là ở cấp tỉnh, hệ thống thể chế đảm bảo cho công tác này đang từng bước được hoàn thiện, nhiều thể chế chính sách được xây dựng đã thực sự đi vào cuộc sống có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh-quốc phòng của tỉnh. Kết quả sau ba năm, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 224văn bản quy phạm pháp luật (gồm 73 nghị quyết và 151 quyết định), trong đó có hơn 51 văn bản quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng; 10 văn bản về cơ chế chính sách an sinh xã hội liên quan đến đời sống nhân dân và 06 văn bản về CCHC.

  

Bộ phận Một cửa hiện đại thành phố Bắc Kạn

Cải cách thủ tục hành chính, luôn được quan tâm thực hiện đồng bộ trên tất cả các nội dung. Ủy ban nhân dân tỉnh kiểm soát việc ban hành mới thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền của tỉnh đối với 05 văn bản QPPL có quy định về TTHC. Thực hiện rà soát 2.061 TTHC, qua rà soát kiến nghị cấp có thẩm quyền đơn giản hóa 233TTHC. Ban hành 80Quyết định công bố TTHC, với hơn 2.485 TTHC được công bố (gồm các TTHC ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, hủy bỏ). Triển khai nhân rộng cơ chế một cửa liên thông trong tiếp nhận và giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân thêm 02 đơn vị, tăng số đơn vị thực hiện cơ chế một cửa liên thông từ 01 đơn vị lên 03 đơn vị; triển khai Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại tại 09 đơn vị (gồm 8 huyện, thành phố và Văn phòng UBND tỉnh nay là Văn phòng ĐĐBQH, HĐND và UBND tỉnh). Hiện nay, 100% đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện đã thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông để tiếp nhận và giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân. Đối với Bộ phận Một cửa các Sở, ban, ngành UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh. Hiện nay, Trung tâm này đã được thành lập, dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong năm 2019. Đến nay, 100% TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã được đưa vào giải quyết theo cơ chế một cửa và được ứng dụng công nghệ thông tin thông qua phần mềm ứng dụng riêng (đối với các TTHC được quy định phải thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông). Việc giải quyết TTHC của các cấp chính quyền thuộc tỉnh thời gian qua nhìn chung có nhiều chuyển biến tích cực, việc tiếp nhận và trả kết quả được thực hiện qua Bộ phận Một cửa; một số TTHC được thực hiện thông qua dịch vụ bưu chính công ích và dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; từ năm 2016 đến năm 2018 các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh đã tiếp nhận và giải quyết hơn 895.088/895.088 hồ sơ, trong đó có 168 hồ sơ giải quyết quá hạn.

Về cải cách tổ chức bộ máy, Tỉnh ủy ban hànhĐề án số 03-ĐA/TU ngày 10/5/2017, theo đó UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 305/KH-UBND ngày 10/8/2017 về thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế giai đoạn 2016-2021. Qua đó, năm 2017 tỉnh thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và cấp huyện. Kết quả, cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn và cơ quan hành chính tỉnh giảm được 67 phòng; đơn vị sự nghiệp thuộc UBND tỉnh giảm 02 đơn vị, số phòng giảm 13 phòng; đơn vị sự nghiệp thuộc sở, ban, ngành giảm 9 đơn vị, số phòng giảm 56 phòng; đơn vị sự nghiệp thuộc UBND cấp huyện giảm 22 đơn vị; đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh giảm 1; số phòng, ban thuộc các tổ chức hội cấp tỉnh giảm 4 phòng. Năm 2018, thực hiện các Nghị quyết của trung ương, tỉnh đã hợp nhất thí điểm Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND và Văn phòng UBND tỉnhthành Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh; sắp xếp, kiện toàn đội ngũ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố, sau sắp xếp, kiện toàn số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố còn 6.594 người, giảm 10.165 người so với trước.

Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, căn cứQuyết định số 2020/QĐ-BNV ngày 31/12/2015 của Bộ Nội vụ, UBND tỉnh đã phê duyệt bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện, theo đó các đơn vị đã rà soát sắp xếp trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ công chức, viên chức và người lao động đúng theo vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức và hạng chức danh nghề nghiệp. Tổ chức tuyển dụng công chức đối với 58 vị trí (bao gồm cả khối đảng, đoàn thể), với 421 hồ sơ dự thi, kết quả 20 người trúng tuyển khối chính quyền, 11 người trúng tuyển khối đảng và đoàn thể, điểm mới trong công tác tuyển dụng công chức của tỉnh là ứng dụng công nghệ thông tin trong thi tuyển đối với môn thi tin học và môn thi chuyên môn nghiệp vụ (phần thi trắc nghiệm); tuyển dụng công chức không qua thi tuyển 19 người; xét chuyển công chức cấp xã thành công chức cấp huyện 08 người. Theo phân cấp, Sở Y tế tổ chức tuyển dụng viên chức ngành y tế đối với 40 biên chế cần tuyển, tổng số người dự thi 105 người, số người trúng tuyển 40 người. Tổ chức thi nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh với tổng số người dự thi là 90 người (khối Đảng đoàn thể 45 người; khối chính quyền 45 người), kết quả 58 ngườitrúng tuyển(khối Đảng đoàn thể 33 người; khối chính quyền 25 người). Tổ chức thi thăng hạng viên chức ngành y tế từ hạng III lên hạng II cho 37 viên chức. Thực hiện tinh giản biên chế 333 người, trong đó khối hành chính cấp tỉnh, cấp huyện 37 người, đơn vị sự nghiệp 62 người và 03 hợp đồng theo Nghị định 68; cấp xã 215 người; khối đảng, đoàn thể 16 người.

Về cải cách tài chính công,việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí được duy trì thực hiện và tiếp tục triển khai nhân rộng. Trong ba năm qua, có thêm 132 đơn vị sự nghiệp thực hiện tự chủ về kinh phí, tăng số đơn vị sự nghiệp tự chủ về kinh phí lên 430đơn vị; đồng thời, triển khai thực hiện cơ chế tự chủ về kinh phí cho các đơn vị cấp xã theo hình thức giao khoán kinh phí. Hiện nay, 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đã thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí và 430/431 đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế này. Hàng năm, các đơn vị căn cứ dự toán được giao đã chủ động xây dựng kế hoạch, quy chế chi tiêu nội bộ và tổ chức chi ngân sách đúng theo quy định hiện hành, qua đó một số đơn vị đã tiết kiệm chi để đầu tư mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện làm việc, tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Thực hiện chuyển đổi 02 đơn vị sự nghiệp công lập sang mô hình doanh nghiệp.

  

Trang dịch vụ công trực tuyến tỉnh Bắc Kạn

Về hiện đại hóa hành chính, tỉnh Bắc Kạn đã xây dựng và ban hành Quyết định phê duyệt Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Bắc Kạn, phiên bản 1.0 và ban hành Kế hoạch triển khai, duy trì và cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2018 - 2019. Trên cơ sở đó, hệ thống phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc được triển khai kết nối liên thông đồng bộ tại tất cả các cơ quan hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã trong trao đổi văn bản, tỷ lệ gửi văn bản điện tử đạt 100%, trong đó có khoảng 80% văn bản được gửi hoàn toàn dưới dạng điện tử, số còn lại được gửi song song văn bản điện tử và văn bản giấy (trừ văn bản mật chỉ gửi bản giấy), các văn bản gửi điện tử đều được gắn chữ ký số chuyên dùng đảm bảo tính pháp lý; dịch vụ công trực tuyến mức độ cao và dịch vụ bưu chính công ích cũng được triển khai trong giải quyết TTHC tại các cơ quan hành chính của tỉnh, việc tiếp nhận và giải quyết TTHC qua các dịch vụ trên ngày một đi vào nề nếp, số hồ sơ phát sinh ngày một tăng; cổng, trang thông tin điện tử của tỉnh, của các đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện luôn duy trì thực hiện; số lượng, chất lượng sử dụng hòm thư công vụ đã cấp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ cấp tỉnh đến cấp xã ngày một nâng cao. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 tại 37 đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện được duy trì thực hiện và tiếp tục triển khai nhân rộng, năm 2018 tỉnh ban hành Kế hoạch về xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động của UBDN các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2018-2022, theo đó đã triển khai áp dụng ISO tại 15 xã, phường, thị trấn.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác CCHC của tỉnh sau ba năm còn tồn tại một số hạn chế. Các mục tiêu đã được triển khai thực hiện nhưng còn nhiều mục tiêu chưa hoàn thành; cải cách TTHC có tiến bộ nhưng vẫn còn tình trạng giải quyết hồ sơ quá hạn, trong giải quyết TTHC vẫn còn hiện tượng gây khó khăn, phiền hà cho cá nhân, tổ chức; bộ phận Một cửa hiện đại cấp huyện đã đi vào hoạt động nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, một số đơn vị cấp xã Bộ phận Một cửa hoạt động còn mang tính hình thức; việc bố trí công chức, viên chức tại một số đơn vị chưa phù hợp với vị trí việc làm; việc thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính chưa thực sự hiệu quả trong việc tiết kiệm các khoản chi để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hiện đại hóa nền hành chính còn gặp nhiều khó khăn cùng với trình độ dân trí và sự hiểu biết về công nghệ thông tin của người dân còn thấp, dẫn đến các cơ quan quản lý nhà nước đã sẵn sàng cung ứng các dịch công trực tuyến mức độ 3, 4 rất lớn, nhưng tỷ lệ phát sinh hồ sơ lại thấp...

Nguyên nhân, do công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện CCHC tại một số cơ quan đơn vị chưa thường xuyên, đồng bộ, sâu sát; hệ thống các văn bản QPPL của trung ương chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, một số chưa phù hợp với thực tiễn nên khó đi vào cuộc sống gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành của các cấp chính quyền. Còn nhiều thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện; thiếu kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước; đội ngũ cán bộ giúp việc về CCHC của một số đơn vị, địa phương chưa chủ động trong công tác tham mưu, đề xuất nên đã ảnh hướng tới việc tổ chức, triển khai các nhiệm vụ CCHC.

Trong hai năm tới, để hoàn thành được các mục tiêu Nghị quyết số 07-NQ/TU đề ra, các cấp ủy đảng tiếp tục quan tâm chỉ đạo và các cấp chính quyền cần nỗ lực hơn nữa trong triển khai thực hiện công tác CCHC góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI (nhiệm kỳ 2015-2020)./.

Tác giả:  L.T
Nguồn: