Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Tỉnh Bắc Kạn thực hiện hoàn thiện cơ chế tài chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo chủ trương tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Kế hoạch, Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Theo đó, các sở, ban, ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, nâng cao được nhận thức, tạo được sự đồng thuận trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập. Kết quả thực hiện như sau:

Về ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công:

Thực hiện Thông báo số 448/TB-VPCP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Văn phòng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 132/KH-UBND ngày 12 tháng 4 năm 2017 triển khai thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó tính đến cuối năm 2020, Uỷ ban nhân dântỉnh đã ban hành 09 danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trong các lĩnh vực: Giao thông vận tải; Lao động, Thương binh và Xã hội; Đào tạo; Tư pháp; Tài nguyên và Môi trường; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Y tế; Thông tin và truyền thông. Tuy nhiên, qua quá trình thực tế triển khai, các danh mục dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước đã ban hành còn bộc lộ một số hạn chế nên đến ngày 07 tháng 12 năm 2021, Hội đồng nhân dântỉnh Bắc Kạn đã ban hành Nghị quyết số 95/NQ-HĐND quy định danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Danh mục này đã đảm bảo phù hợp với hoạt động cung ứng dịch vụ công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, quy định danh mục hiện hành và được xem xét ban hành dựa trên cả yếu tố khả năng bảo đảm của ngân sách địa phương.

Về ban hành, sửa đổi, bổ sung định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí làm cơ sở ban hành đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về giá và quy định của các pháp luật khác có liên quan:

Thực hiện Kế hoạch số 32/KH-UBND, Uỷ ban nhân dântỉnh đã ban hành được định mức kinh tế kỹ thuật cho: Lĩnh vực Đào tạo (cụ thể là đào tạo nghề); lĩnh vực Tài nguyên và môi trường (các dịch vụ liên quan đến quản lý đất đai, quan trắc môi trường,…); lĩnh vực việc làm. Mặc dù Uỷ ban nhân dântỉnh đã quy định lộ trình sát với quy định của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và chỉ đạo cơ quan chuyên môn thực hiện tham mưu ban hành hướng dẫn việc xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật để định hướng và thống nhất trong phương pháp, cách thức xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước, tuy nhiên thực tế triển khai cho thấy việc xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật là một nội dung phức tạp và khó trong khi nội dung hướng dẫn từ Trung ương đến địa phương còn tương đối chung chung, chưa hướng dẫn chi tiết, ví dụ cụ thể dẫn đến sự lúng túng trong thực hiện.

Về phê duyệt Đề án tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo quy định tại Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ:

Thực hiện lộ trình giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại khoản 2, Điều 40 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Kế hoạch số 83/KH-UBND triển khai thực hiện Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2021 của Chính phủ. Trên cơ sở lộ trình, nhiệm vụ đã được quy định cụ thể, đến nay theo rà soát, 100% các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các Sở, ban, ngành và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố đã hoàn thành việc xây dựng phương án tự chủ và đang tiến hành gửi cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, cho ý kiến về phương án tự chủ tài chính giai đoạn 2022-2026. Với tiến độ triển khai thực hiện như hiện nay, dự kiến việc phê duyệt phương án tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập loại 3 và loại 4 sẽ cơ bản đảm bảo theo lộ trình Chính phủ phê duyệt.

Hiện nay, tỉnh Bắc Kạn đang thực hiện phê duyệt Đề án tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (ổn định theo giai đoạn tự chủ tài chính là 05 năm) theo đúng quy định tại Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, tỉnh chưa thực hiện được việc phê duyệt Đề án tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự đối với các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, do hằng năm tỉnh phải thực hiện cắt giảm biên chế sự nghiệp theo tỷ lệ tối thiểu 10% tinh giản biên chế trong giai đoạn 2015-2021 (đã cắt giảm 1.112 biên chế), giai đoạn 2022-2025 (tỉnh Bắc Kạn phải tiếp tục giảm ít nhất 934 biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước). Theo đó, khi đã thực hiện cắt giảm biên chế hằng năm thì không thể đồng thời giao tự chủ về nhân sự cho các đơn vị ổn định theo giai đoạn 5 năm. Do vậy, hiện nay tỉnh chỉ thực hiện được việc giao tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Về đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công:

Tính đến cuối năm 2021, tỉnh Bắc Kạn có 388 đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó:

Đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư: 0 đơn vị (chiếm tỷ lệ 0%);

Đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên: 21 đơn vị (chiếm tỷ lệ khoảng 5,4 %);

Đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên: 29 đơn vị (chiếm tỷ lệ 7,5%);

Đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách đảm bảo chi thường xuyên: 338 đơn vị (chiếm tỷ lệ 87,1%).

Căn cứ tỷ lệ nêu trên, địa phương chưa đạt mục tiêu ít nhất 10% đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại ở mức đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên.

Về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính các năm 2015 và 2021, số liệu giảm chi trực tiếp cho các đơn vị sự nghiệp công lập của địa phương chỉ đạt 3,5% (đã loại bỏ yếu tố điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị định của Chính phủ để thực hiện so sánh) so với mục tiêu giảm bình quân 10% của Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Về kết quả chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần:

Thực hiện quy định về chuyển đổi mô hình đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần, theo đó, từ năm 2015 đến nay, tỉnh Bắc Kạn đã thực hiện chuyển đổi mô hình từ đơn vị sự nghiệp công lập sang công ty cổ phần đối với 03 đơn vị đáp ứng các tiêu chí quy định tại Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần, gồm: Trung tâm Đăng kiểm phương tiện giao thông vận tải Bắc Kạn, Bến xe ô tô khách Bắc Kạn và Ban Quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật huyện Na Rì.

Việc chuyển đổi mô hình đối với 03 đơn vị sự nghiệp nêu trên được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và bảo toàn phần vốn nhà nước; rà soát chặt chẽ, xây dựng phương án sử dụng đất của các đơn vị sự nghiệp sau cổ phần phù hợp, không gây lãng phí.

 

 Trụ sở Bến xe khách Bắc Kạn

Các đơn vị sự nghiệp công lập sau khi được chuyển đổi thành công ty cổ phần theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ hoạt động theo luật doanh nghiệp, đã tự chủ về tài chính, phát huy được vai trò và chủ động của doanh nghiệp, hạch toán theo nguyên tắc cơ chế thị trường, huy động vốn của các nhà đầu tư để nâng cao năng lực tài chính, đầu tư đổi mới công nghệ, đồng thời nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ tại doanh nghiệp.

Về khuyến khích thành lập các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; chuyển đổi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán như doanh nghiệp

Ngày 23 tháng 01 năm 2018, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chương trình hành động số 11-CTr/TU thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh, theo đó, việc thúc đẩy, khuyến khích thành lập các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập được xem là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng cần phải thực hiện. Trên cơ sở Chương trình hành động nêu trên, Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã giao cho các ngành chủ quản liên quan nghiên cứu, đề xuất tham mưu xây dựng chính sách khuyến khích xã hội hóa trong các ngành như y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ, tuy nhiên, do những hạn chế về nguồn lực và vướng mắc, khó khăn khi đề xuất chính sách so với Luật và văn bản hướng dẫn Luật hiện hành (chủ yếu vướng mắc liên quan đến Luật quản lý sử dụng tài sản công) nên đến nay tỉnh Bắc Kạn chưa ban hành được cơ chế để khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng, thành lập các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Thực tế hiện nay, các đơn vị ngoài công lập hoạt động chủ yếu tại thành phố Bắc Kạn, một số ít tại các huyện thực hiện cung ứng dịch vụ trong lĩnh vực thiết yếu, cơ bản như giáo dục mầm non, y tế (các phòng khám tư nhân), môi trường (công ty xử lý chất thải), tư pháp (công chứng) các lĩnh vực còn lại chưa có đơn vị thực hiện. Quá trình thành lập cơ cấu nguồn vốn thực hiện của các đơn vị đều sử dụng từ nguồn vốn tự có và vốn vay.

Đối với chuyển đổi hạch toán như doanh nghiệp, hiện nay địa phương chưa có đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán như doanh nghiệp.

Về tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động trong nước và hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Hoạt động gắn kết giữa giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp được Trường Cao đẳng Bắc Kạn ngày càng đẩy mạnh và đi vào chiều sâu; doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ khâu phát triển chương trình đào tạo, tham gia đào tạo, thi, kiểm tra đánh giá người học, tuyển dụng người học sau khi tốt nghiệp, kết quả đạt như sau:

Năm 2017, Nhà trường được dự án Vie/034 tài trợ đã thành lập Ban cố vấn phát triển Nhà trường trong đó số lượng Doanh nghiệp tham gia chiếm 50% thành viên của Ban. Số lượng Doanh nghiệp hợp tác là 20 Doanh nghiệp. Năm 2018 - 2019, số lượng Doanh nghi tăng lên 35. Từ năm 2019 - 2021, do tình hình dịch bệnh Covid-19, Trường chỉ ký kết với 02 Doanh nghiệp đưa người lao động đi nước ngoài với các thị trường Nhật Bản và Đài Loan và 01 Doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực Nhà máy Thủy điện nhỏ. Năm 2022, trở lại trạng thái bình thường mới, Nhà trường tiếp tục tổ chức các hoạt động liên kết nhằm đa dạng các vị trí việc làm cho người học.

 

Trụ sở Trường Cao đẳng Bắc Kạn

Các hoạt động hợp tác, như xây dựng, chỉnh sửa chương trình đào tạo 100% chương trình đều có sự tham gia của thành viên Doanh nghiệp đúng chuyên môn; thực hành, thực tập tại Doanh nghiệp, 100% các lớp đến kỳ thực tập hoặc các môn thực hành phù hợp với lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp học sinh, sinh viên đều được tham gia; kết thúc các khóa học nhà trường đều tổ chức cho các Doanh nghiệp đến tư vấn, phỏng vấn và tuyển dụng các thị trường lao động trong và ngoài nước. Năm 2019, Trường đã triển khai hợp tác với Công ty Cổ phần thủy điện Sử Pán đào tạo có địa chỉ 01 lớp/20 sinh viên cao đẳng Điện công nghiệp tạo nguồn kỹ thuật vận hành cho Doanh nghiệp tại các Nhà máy thủy điện tại Bắc Kạn.

Các hoạt động khác: Sau khi sinh viên tốt nghiệp 6 tháng, Trường triển khai nắm bắt tình hình việc làm, sự phù hợp của chương trình đào tạo, chất lượng của sản phẩm đầu ra.

Về đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực, quản lý cấp phát ngân sách nhà nước, đổi mới cơ chế tài chính chuyển từ hỗ trợ cho các đơn vị sự nghiệp sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng người nghèo, đối tượng chính sách khi sử dụng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; chuyển từ hỗ trợ theo cơ chế cấp phát bình quan sang cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ căn cứ vào chất lượng đầu ra hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ:

Do những hạn chế của địa phương trong công tác xây dựng định mức kinh tế-kỹ thuật của dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước nên đến nay chủ yếu việc phân bổ kinh phí vẫn thực hiện theo cơ chế giao dự toán để hỗ trợ trực tiếp cho đơn vị sự nghiệp công lập.

Việc triển khai cơ chế quản lý tài chính đối với dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên mới chỉ được triển khai thực hiện đối với các dịch vụ công được ban hành đầy đủ quy định về danh mục, định mức kinh tế-kỹ thuật, đơn giá và tiêu chí, tiêu chuẩn cung ứng dịch vụ sự nghiệp công (lĩnh vực tài nguyên và môi trường: cụ thể là nhiệm vụ liên quan đến xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, quan trắc môi trường; lĩnh vực đào tạo: cụ thể là hoạt động đào tạo nghề cho các đối tượng người nghèo, người khuyết tật; lĩnh vực việc làm). Nhìn chung, việc triển khai cơ chế quản lý tài chính theo Nghị định số 32/2019/NĐ-CP đã góp phần nâng cao trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc cung ứng dịch vụ công, đồng thời tạo sự bình đẳng trong cung ứng dịch vụ công giữa đơn vị sự nghiệp công lập với các đơn vị cung ứng dịch vụ công khác ngoài công lập.

Về giao tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập:

Việc giao tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm tuân thủ đúng theo quy định của Luật Quản lý sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đối với tài sản công sử dụng vào nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của đơn vị thì được giao cho các đơn vị sử dụng theo dõi hao mòn như đối với việc giao tài sản cho các cơ quan quản lý nhà nước. Đối với tài sản công sử dụng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh liên kết được thực hiện thông qua đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh liên kết được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tại thời điểm báo cáo, đơn vị sự nghiệp thuộc 03 lĩnh vực: Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Y tế; Tài nguyên Môi trường đã được phê duyệt đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết.

Về xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về tài chính và tài sản công của đơn vị sự nghiệp công lập:

Hiện nay, tỉnh Bắc Kạn đang sử dụng thường xuyên 02 hệ thống phần mềm do Bộ Tài chính cung cấp để phục vụ theo dõi, quản lý tài chính và tài sản công của các đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể: Hệ thống thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc (Tabmis) và Phần mềm Quản lý tài sản công. Bên cạnh đó, để phục vụ tốt hơn công tác quản lý tài chính ngân sách của các đơn vị dự toán nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng, ngân sách địa phương đã bố trí kinh phí để xây dựng thêm một số phần mềm như: Phần mềm phục vụ công tác quyết toán; Hệ thống thông tin tiền lương các cơ quan đơn vị dự toán ngân sách trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Về bảo đảm nguồn kinh phí để giải quyết chính sách đối với người dôi dư do sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện tỉnh giản biên chế:

Đối với những người dôi dư do sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập và những người thuộc diện tinh giản biên chế, tỉnh Bắc Kạn đã và đang triển khai hỗ trợ cho các đối tượng theo đúng chế độ, chính sách quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014, Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Nghị định số 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ; việc xác định và đảm bảo nguồn kinh phí để thực hiện các chế độ, chính sách nêu trên được tuân thủ đúng theo hướng dẫn tại Thông tư số 31/2019/TT-BTC ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Bộ Tài chính (sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 117/2021/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2021 của Bộ Tài chính). Tổng kinh phí ngân sách nhà nước bố trí giai đoạn 2017-2022 là 53.769 triệu đồng.

Về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước:

Việc quyết định giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập được phân cấp từ cấp tỉnh đến cấp huyện, các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh được phân biệt và quy định rõ chức năng phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Các nội dung này được quy định rõ trong quyết định thành lập và phương án tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Hoạt động đầu tư và hoạt động xác định tự chủ tài chính theo giai đoạn của các đơn vị sự nghiệp công lập luôn được tách biệt rõ ràng giữa cơ quan kế hoạch đầu tư và cơ quan tài chính các cấp, qua đó đảm bảo hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và không chồng chéo.

Sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được một số kết quả nhất định qua đó góp phần giảm chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể: (1) Việc triển khai, ban hành các quy định, kế hoạch, hướng dẫn,… được thực hiện kịp thời; (2) Việc thực hiện hợp nhất, sáp nhập, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, sắp xếp tinh gọn đầu mối bên trong các đơn vị sự nghiệp công lập, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ viên chức, đảm bảo tỷ lệ vị trí chuyên môn nghiệp vụ được quan tâm chú trọng chỉ đạo và thực hiện; (3) Cơ chế tài chính để triển khai đã dần hoàn thiện và đồng bộ. Qua rà soát, tại thời điểm kết thúc niên độ ngân sách 2021 so với năm 2015, số kinh phí ngân sách nhà nước giảm chi trực tiếp cho đơn vị sự nghiệp công lập đạt 3,5% tương ứng với số tiền 30.177 triệu đồng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW vẫn bộ lộ những hạn chế, thiếu sót: (1) Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết tâm, quyết liệt trong việc tổ chức thực hiện sắp xếp, giảm đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực quản lý, chưa chủ động đề xuất thực hiện mở rộng tăng cường phát triển nguồn thu, chưa tự xây dựng đưa ra các các giải pháp để nguồn thu ổn định, bền vững qua đó từng bước nâng cao mức độ tự chủ tài chính, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước; (2) Việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở ban hành giá, đơn giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước chậm phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính đối với dịch vụ sự nghiệp công theo Nghị định số 32/2019/NĐ-CP, từ đó dẫn đến kết quả địa phương không đạt mục tiêu tỷ lệ giảm chi trực tiếp từ ngân sách cho đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết đề ra.

Trong giai đoạn tiếp theo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn sẽ tiếp tục triển khai thực hiện các mục tiêu theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh./.

(Nguồn: Theo Báo cáo số 475/BC-UBND ngày 28/7/2022 của UBND tỉnh Bắc Kạn).

Tác giả:  Nguyễn Hà
Nguồn: